Những vấn đề nổi bật về đường lối Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
GS,TS Đàm Đức Vượng
Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp, diễn ra từ ngày 19 đến ngày 23-1-2026, tại Thủ đô Hà Nội.
Dự Đại hội có 1.586 đại biểu, thay mặt cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong cả nước.
Đại hội dành một phút mặc niệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên Trung ương Đảng đã từ trần trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.
Về tài liệu phục vụ Đại hội cũng có những điểm mới, khác với các Đại hội trước, như đã phát 1.586 máy tính đến tất cả đại biểu chính thức; có khoảng 1.000 trang tài liệu phát qua máy tính bảng, thay thế những tài liệu ghi bằng giấy; tổng cộng có khoảng 1,6 triệu trang tài liệu giấy được thay thế bằng tài liệu trên máy tính, tiết kiệm một lượng lớn về giấy, mực in, nhân công.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, gồm 200 vị, trong đó, 180 vị ủy viên chính thức và 20 vị ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV họp phiên thứ nhất vào ngày 23-1-2026, bẩu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Bộ Chính trị được bầu gồm 19 vị. Ban Bí thư gồm 13 vị. Tổng Bí thư: Giáo sư, Tiến sĩ Tô Lâm. Thường trực Ban Bí thư: Trần Cẩm Tú. Ủy ban Kiểm tra Trung ương: 23 vị. Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Trần Sĩ Thanh.
Về văn kiện, Ban Chấp hành Trung Đảng và Bộ Chính trị đã tích hợp ba báo cáo: Báo cáo chính trị; Báo cáo kinh tế - xã hội; Báo cáo xây dựng Đảng, thành một báo cáo chính trị. Dự thảo Văn kiện trước khi trình Đại hội, đã lấy ý kiến nhân dân, thu hút gần 14 triệu ý kiến tham gia, thể hiện tinh thần dân chủ trong toàn xã hội, khẳng định sự đồng thuận, nhất trí cao giữa “ý Đảng, lòng dân”.
Qua nghiên cứu, tôi thấy đường lối Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, định hướng mới cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2945, trong đó, nổi bật lên những điểm sau đây:
Một là: Đại hội định rõ phương châm: “Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - đột phá - phát triển”. Chủ đề của Đại hội là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, chung lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin; tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Phương châm và chủ đề của Đại hội thể hiện ở tư duy đột phá, hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Hai là: Đại hội xác định rõ đường lối bao quát là tiếp tục và kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; lấy con người, văn hóa làm cơ sở, công nghệ làm động lực để phát triển; bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, lấy đó làm chỗ dựa vững chắc để phát triển; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đối ngoại, được giữ vững. Toàn bộ vấn đề tập trung vào xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào năm 2045 theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống hàng nghìn năm văn hiến của dân tộc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhất quán xây dựng và hoàn thiện 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Ba là: Các văn kiện trước đây coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, văn kiện lần này thêm yếu tố xã hội và môi trường là nhiệm vụ trung tâm. Đại hội xác định tiếp tục phát triển kinh tế trên quy mô lớn, bình diện lớn, tập trung vào phát triển kinh tế nhanh, bền vững, lấy đổi mới thể chế làm chỗ dựa vững chắc để phát triển kinh tế; tháo gỡ những vướng mắc về thể chế; xây dựng kinh tế tri thức1, kinh tế số2, kinh tế xanh3, kinh tế tuần hoàn4;
đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nông nghiệp, khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm của sự phát triển; dịch vụ, đầu tư hạ tầng giao thông, đô thị, hoàn thiện hệ thống tài chính, ngân hàng; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD…, bằng việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tạo ra các giá trị mới.
Bốn là: Đại hội xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm: phát triển kinh tế; xây dựng văn hóa, xã hội; xây dựng nền quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại; phát huy dân chủ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Triển khai 3 đột phát chiến lược: đột phá về thể chế; đột phá về nguồn nhân lực; đột phá về cơ sở hạ tầng. Thực hiện 4 chuyển đổi chiến lược: đẩy mạnh chuyển đổi số5; chuyển đổi xanh; chuyển đổi mô hình tăng trưởng; chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Năm là: Đại hội chú trọng đến việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, chú ý đến việc hoàn thiện thể chế và cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo không gian phát triển, thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và các thủ tục hành chính cho người dân; lấy thực thi làm thước đo. Xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, thượng tôn pháp luật.
Sáu là: Đại hội nhận định việc phát triển con người toàn diện bằng các giải pháp giáo dục và đào tạo là rất cần thiết; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của phát triển; lấy “dân là gốc”, làm thước đo cao nhất của mọi quyết sách; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, chuẩn mực của con người Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới; văn hóa ngoại giao được triển khai; xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh, văn hóa trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng; xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình một cách đồng bộ.
Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khoẻ nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống. Tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, để đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, bảo đảm cho xã hội thực sự hài hoà, lành mạnh, dân chủ, văn minh.
Bảy là: Đại hội nhấn mạnh đến việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành một khối thống nhất vững chắc, đủ sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh; xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng rộng rãi, trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới; đặt bình đẳng ở vị trí trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tám là: Đại hội rất chú trọng đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại, nền an ninh vững chắc, đủ sức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi hoàn cảnh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Chín là: Đại hội đã nâng vấn đề đối ngoại là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mười là: Đại hội khẳng định rõ hơn vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Coi công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm và đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; kiên quyết không để những phần tử cơ hội, chạy chức, chạy quyền vào trong bộ máy và trong hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được gắn với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; cảnh giác với những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm; suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Lần này, vấn đề quyền lực cũng được đặt ra một cách nghiêm túc trên cơ sở quyền lực thuộc về nhân dân.
Trên đây là mười điểm lớn trong đường lối chiến lược của Đảng do Đại hội XIV đã vạch ra, mà bước đầu, tôi đã nghiên cứu. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để bổ sung cho những vấn đề đã nghiên cứu. Đường lối này sẽ mở ra sự phát triển toàn diện của đất nước trong kỷ nguyên mới, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng và sức mạnh của nhân dân Việt Nam anh hùng.
------
1. Kinh tế tri thức (Knowledge Economy) là mô hình kinh tế hiện đại, lấy sự sáng tạo, đổi mới làm động lực phát triển; ứng dụng công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao vào sản xuất; gắn liền với giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học. Kinh tế tri thức là sự hiểu biết của con người trên lĩnh vực kinh tế, nghiên cứu để làm ra những sản phẩm có giá trị.
2 .Kinh tế số (Digital Economy), còn gọi kinh tế kỹ thuật số, là thuật ngữ chỉ các hoạt động kinh tế theo mô hình mới, là nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, Internet, dữ liệu, nơi các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao dịch được số hóa, kết nối toàn cầu, tạo ra giá trị mới và hiệu quả hơn, bao gồm các lĩnh vực như thương mại, điện tử, tài chính, sản xuất thông minh và các dịch vụ dựa trên nền tảng số. Đây là bước tiến mới của phát triển kinh tế, thể hiện bước chuyển đổi từ kinh tế truyền thống sang mô hình kinh doanh mới, hiện đại; thúc đẩy sự đổi mới và khởi nghiệp, cạnh tranh.
Kinh tế số góp phần thúc đẩy sự phát triển của chính phủ điện tử, các dịch vụ công trực tuyến. Điều này giúp tăng sự minh bạch, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính quyền, đem đến sự cải thiện tích cực, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số quốc gia. Kinh tế số giúp các doanh nghiệp dễ dàng kết nối các khách hàng mới trong nước và quốc tế, tự động hóa các quy trình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh, mở rộng quy mô kinh doanh. Với công nghệ, thiết bị hiện đại, giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; có cơ hội mở rộng thị trường. Sự phát triển công nghệ điện toán đám mây trí tuệ nhân tạo, tiếp cận dễ dàng hơn mô hình kinh tế truyền thống. Kinh tế số góp phần tăng trưởng và đem lại những lợi ích chung của nền kinh tế quốc gia và thế giới, thông qua việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường hợp tác quốc tế, tạo ra các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả; tạo việc làm cho người lao động và nguồn nhân lực có chất lượng cao,…
Tại Việt Nam, kinh tế số bắt đầu phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị khóa XII, nhấn mạnh về mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP của cả nước; năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP; năng suất lao động tăng trên 7%; phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, sản xuất và dịch vụ thông minh, dẫn đầu châu Á. Việt Nam là 1/20 nước có tỷ lệ sử dụng mạng Internet nhiều nhất (đạt 70,3 % dân số). Các công nghệ trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence) đang được ứng dụng nhiều trên lĩnh vực y tế, hệ thống giao thông,…
Về các đơn vị quốc tế phục vụ cho kinh tế số phát triển, qua nghiên cứu, tôi (ĐĐV) thấy hiện nay, Google là Tập đoàn phục vụ kinh tế số tốt nhất thế giới. Đây là Tập đoàn để tìm kiếm công cụ có nhiều người sử dụng nhất trên thế giới. Google chuyên cung cấp các dịch vụ như Google Photo, Google Drive, Google Gmail… Google có sự kết nối đồng bộ, đồng chiều, liên kết với nhau để khách hàng lưu trữ, sử dụng và quản lý thông tin rất tiện lợi, thu hút lượng lớn người dùng. Nhiều website được Google hỗ trợ dịch sang nhiều thứ tiếng, phục vụ đông đảo bạn đọc ở các nước.
3. Kinh tế xanh (Green Economy) là mô hình phát triển kinh tế bền vững, tập trung vào tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy công bằng xã hội, hướng tới sự hải hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội, môi trường.
4. Kinh tế tuần hoàn (Circula Economy) là mô hình kinh tế tái tạo trong sản xuất nhằm loại bỏ chất thải, giảm ô nhiễm và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, hướng tới phát triển bền vững.
5. Chuyển đổi số (Digital Transformation) là quá trình áp dụng sâu rộng công nghệ số gồm AI (trí tuệ nhân tạo); Cloud (điện toán đám mây, kiểu lưu trữ dữ liệu trên mạng); Big Data (dữ liệu lớn); I0T (Internet of Things, kiểu kết nối Internet với mọi sự kiện)... vào mọi mặt hoạt động của bộ máy, thay đổi mô hình vận hành, quy trình làm việc, văn hóa và cách thức cung cấp sản phẩm, dịch vụ, nhằm nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh và tạo ra giá trị mới..