Sự chờ đợi đã có kết quả
GS,TS Đàm Đức Vượng
Sau Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, trên các trang mạng quốc tế tiếp tục viết nhiều bài về tình hình Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có bài “Mười năm nhìn lại: Vẫn một nỗi chờ đợi”(Một tâm sự sau Đại hội XIV) của một người khác chính kiến. Bài viết kể rằng: “Mười năm trước, sau Đại hội XII, tôi đã viết một bài với tâm trạng vừa chờ đợi, vừa tỉnh táo, vừa bất an. Khi ấy, tôi đã nói rõ rằng, theo truyền thống, hầu hết các đại hội của Đảng đều đã được cài đặt sẵn để “thành công”. Người ta chờ đợi, hy vọng, phân tích, dự đoán, nhưng rồi mọi việc, vẫn đi theo đúng quỹ đạo quen thuộc của nó. Hôm nay, khi Đại hội XIV khép lại, tôi có cảm giác cay đắng rằng, mười năm đã trôi qua, nhưng cảm xúc ấy gần như không thay đổi. Vẫn là những diễn văn được chuẩn bị sẵn, vẫn là những nghị quyết đầy mỹ từ, vẫn là những lời hứa hẹn quen tai, vẫn là sự mong đợi mơ hồ của một xã hội đã quen với việc chờ đợi… Không phải vì người ta không muốn đổi mới, mà vì hệ thống này không được thiết kế để tự thay đổi một cách thực chất”.
Bài viết nêu sự “kiên định nguy hiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin”. “Điều nguy hiểm nhất cho đất nước này, mười năm trước cũng vậy, mà hôm nay vẫn vậy, chính là sự “kiên định”. Kiên định không phải là vì lợi ích dân tộc, không phải với tự do, dân chủ hay sáng tạo, mà là kiên định với một mô hình tư tưởng mà thế giới đã từ bỏ từ nhiều thập niên trước. Chủ nghĩa Mác – Lênin trên thực tế, đã không còn là một động lực phát triển, mà đã trở thành một vật cản tư duy. Trong khi thế giới vận động không ngừng, thì chúng ta vẫn loay hoay bảo vệ một hệ hình đã chứng minh sự thất bại của nó trên quy mô toàn cầu. Dân chủ là chia sẻ quyền lực. Cộng sản là tập trung quyền lực. Dân chủ tạo ra không gian cho sáng tạo và phản biện. Độc quyền chính trị tạo ra sự trì trệ, sợ hãi và giả dối”. “Xã hội Việt Nam hôm nay giống như một nồi áp suất bị nén quá lâu. Sự bất mãn không biến mất, nó chỉ chuyển từ công khai sang âm thầm. Người dân có thể ít nói hơn, nhưng không có nghĩa là họ ít nghĩ hơn. Họ học cách im lặng, học cách thích nghi, học cách sống chung với sự vô lý, nhưng điều đó không làm cho những vấn đề cốt lõi biến mất”. “Phúc đức cho dân tộc Việt Nam, nếu một ngày nào đó, sự thay đổi không còn là điều để hy vọng, mà trở thành điều không thể tránh khỏi”…
Những nhận định trên đây về Việt Nam trong bài “Mười năm nhìn lại: Vẫn một nỗi chờ đợi”(Một tâm sự sau Đại hội XIV) là hoàn toàn bịa đặt, sai sự thật, mang tính vu cáo, nên cần phải phê phán.
Sự thật thì sau 40 năm đổi mới (1986-2026), nhất là trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã chuyển mình từ một nền kinh tế tập trung, bao cấp, khủng hoảng sâu sắc, thành một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,5% / năm, nên về cơ bản, Việt Nam đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội từ năm 1995. Giai đoạn này đánh dấu thành tựu của 10 năm đổi mới (1986-1995), hoàn thành nhiệm vụ đề ra từ Đại hội VII của Đảng và chuyển sang thời kỳ phát triển mới về chất, chấm dứt tình trạng suy thoái kinh tế. Từ một nước nghèo, kém phát triển, trở thành một nước có thu nhập trung bình. Cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh mẽ theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tuy một số mặt còn chưa vững chắc.
Về mặt Nhà nước: Việt Nam đã xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững chắc. Dân chủ được phát huy. Cải cách hành chính được cải thiện rõ rệt…
Về mặt xã hội, do kinh tế bắt đầu phát triển, làm cho tỷ lệ nghèo đói giảm ấn tượng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoàn thành giáo dục phổ cập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuổi thọ trung bình tăng, bao phủ bảo hiểm y tế trên 94%. Xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại với các công trình quy mô lớn, trong đó có đường cao tốc Bắc – Nam, cảng biển nước sâu, các đô thị mới, những khu nhà mới mọc lên san sát, bộ mặt của đất nước thay đổi từng ngày, từng giờ…
Về mặt đối ngoại: Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước và vùng lãnh thổ; hội nhập kinh tế với nhiều quốc gia, tạo sân chơi đối nội và đối ngoại hài hòa.
Mục tiêu giai đoạn tới của Việt Nam là ra sức phấn đấu để đến năm 2045 trở thành một nước phát triển toàn diện, có thu nhập cao.
Đó là những thành tựu rõ nhất trong 40 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây mà lịch sử đã ghi nhận và thế giới công nhận. Sự mong đợi đã có kết quả, chứ không phải không có kết quả như người khác chính kiến viết.
Bài viết “Mười năm nhìn lại: Vẫn một nỗi chờ đợi” (Một tâm sự sau Đại hội XIV) đã đụng chạm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, không còn sức sống trên thế giới và trên mảnh đất Việt Nam mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn bám lấy là không thực tế. Nhận định này là vô cớ, phản lịch sử, rất đáng chê trách. Xin đừng đùa bỡn với lý luận Mác – Lênin. Những người phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin là những người chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác – Lênin, thậm chí không bao giờ đọc những tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn, nên sa vào tình trạng nhắm mắt nói liều, “ăn ốc nói mò”, rất đáng chê trách.
Ở đây, phải khẳng định rằng, trong lịch sử nhân loại, cho đến nay, chưa có học thuyết nào sánh được với học thuyết Mác – Lênin. Đó là học thuyết cách mạng và khoa học nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa nhân loại đến hạnh phúc và bến bờ vinh quang, đưa thế giới đến tự do và bình đẳng. Chưa nói đến chất lượng, chỉ nói đến số lượng sách, chưa có một trường phái tư tưởng nào trên thế giới có nhiều sách như các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin.
Học thuyết Thích Ca Mâu Ni chẳng qua chỉ dạy loài người về mặt đạo đức, nhưng nếu chỉ có đạo đức thuần túy, đạo đức chay sẽ không bao giờ giải phóng được nhân loại thoát khỏi cảnh lầm than, đau khổ.
Học thuyết Giêsu cũng là thương người nghèo, nhưng không có giải pháp cho người nghèo thoát khỏi cảnh khổ đau.
Học thuyết Khổng Tử sặc mùi phong kiến, bênh vực tầng lớp thống trị bóc lột. Nếu chỉ “nhân, nghĩa, lễ, chí, tín” một cách thuần túy là chỉ để phục vụ cho tầng lớp phong kiến thống trị. Đọc Khổng Tử, người ta không thấy chỗ nào ông nói đến việc bênh vực người nghèo khổ, mà chỉ ca ngợi chế độ phong kiến thống trị. Với ông, tất cả điều thiện mà con người có khả năng làm chỉ là sự tuân phục.
Về chủ nghĩa tư bản, có người hỏi tôi về học thuyết của chủ nghĩa tư bản là gì? Tôi trả lời là chủ nghĩa tư bản không có học thuyết, chỉ có những tác phẩm của các nhà tư tưởng tư sản viết ra, tô vẽ cho chế độ tư bản chủ nghĩa. Lý luận của chủ nghĩa xã hội dân chủ, tuy có nghiêng về chủ nghĩa tư bản, nhưng xét về nội dung của nó, chưa phải là học thuyết của chủ nghĩa tư bản.
Có người lập luận rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin đúng, vậy tại sao Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu lại sụp đổ? Xin thưa, Liên Xô đổ không phải do lỗi ở chủ nghĩa Mác – Lênin, mà do sai lầm rất đáng trách của Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đứng đầu là Tổng Bí thư Goócbachốp (Mikhain Gorbachev) về cả đường lối, phương pháp và công tác cán bộ.
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40, thế kỷ XIX, do những nhu cầu của sự phát triển của xã hội loài người. Đó là lý do ra đời của chủ nghĩa Mác. C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải quyết nhiệm vụ lịch sử này. Năm 1848, khi “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” của C.Mác và Ph.Ăngghen được công bố ra toàn thế giới, đánh dấu chủ nghĩa Mác ra đời. Ph.Ăngghen là người đầu tiên nêu thuật ngữ “chủ nghĩa Mác” vào năm 1848. C.Mác và Ph.Ăngghen nêu khẩu hiệu: "Giai cấp công nhân thế giới đoàn kết lại!". V.I.Lênin nêu khẩu hiệu: "Giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại!".
Người kế tục sự nghiệp lý luận cách mạng và khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen là V.I.Lênin. Công lao lớn nhất của V.I.Lênin là đã tổng kết về mặt lý luận các thành tựu mới nhất của khoa học xã hội, khoa học chính trị và rút ra những kinh nghiệm của cuộc đấu tranh giai cấp, nâng lý luận mácxít lên một trình độ phát triển mới về chất. Năm 1938, I.V.Stalin nêu khái niệm “chủ nghĩa Mác – Lênin”, kết hợp giữa chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin, thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự hình thành chủ nghĩa Mác – Lênin là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng xã hội của loài người.
Các tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin hình thành và phát triển trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản nắm độc quyền về kinh tế, các phương tiện giáo dục và hoạt động khoa học. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác, ra sức chống trả quyết liệt sự tấn công trên mặt trận tư tưởng lý luận, khi chủ nghĩa tư bản bước sang chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện tính phê phán, tính sáng tạo, tính phát triển. Với tư cách là học thuyết cách mạng và khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin đối lập với chủ nghĩa cải lương. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng trưởng thành trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Chủ nghĩa Mác – Lênin không khoan nhượng với bất kỳ chủ nghĩa giáo điều nào, một học thuyết luôn luôn mang tính phát triển.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết mang tính quốc tế, phạm vi phổ biến lý luận là toàn thế giới.
Chủ nghĩa Mác – Lênin tuy còn gặp nhiều trắc trở bởi chủ nghĩa tư bản còn mạnh và phong trào cộng sản quốc tế đang có chiều hướng chững lại, nhưng xét về lâu dài, nhất định sẽ còn phát triển và giành thắng lợi.
Vấn đề đặt ra hiện nay đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lên tầm cao, sao cho phù hợp với sự phát triển của Việt Nam và thời đại mới. Bởi vì, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”1.
Nguyễn Ái Quốc và quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
------
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr. 563.