Mới cập nhật

Thăm mộ Các Mác ở Luân Đôn

 


     Mộ Các Mác tại Nghĩa trang Haighết ở Luân Đôn, Anh


Tôi đến Luân Đôn một buổi chiều

Mưa như xối xả suốt ngày rơi.

Lần tìm đến nghĩa trang Haighết

Thăm mồ Các Mác giấc nghìn thu.


Tôi đứng bên mồ thấy quạnh hiu

Lá cây xào xạc tiếng gió kêu

Đàn chim chao lượn quanh mồ Mác

Linh hồn thiên cổ những ai yêu?


Một bậc triết gia sống trọn đời

Tình yêu nhân loại mãi bên nhau.

Muốn đem tư tưởng trùm thiên hạ

Giải phóng loài người thoát cảnh đau.


Ông mất đi nhân loại năm châu

Bao phen tranh đấu vẫn khổ đau.

Đại đồng thế giới khi nào đến?

Bao giờ cuộc sống mới yên vui!


Viết tại Nghĩa trang Haighết,

Luân Đôn, Anh, chiều 24-5-2002

------

Lời Tác giả:  Từ Praha, Thủ đô Cộng hòa Séc, tôi đi ô tô đến Pari, Thủ đô nước Pháp và từ Pari, tôi đến Luân Đôn, Thủ đô nước Anh vào ngày 24-5-2002. Đây là lần thứ tư tôi đến Luân Đôn. Lần này, tôi quyết tâm đến thăm mộ Các Mác, yên nghỉ trong Nghĩa trang Haighết, Luân Đôn. Tìm khoảng 6 giờ đồng hồ mới đến được Nghĩa trang Haighết. Đến Nghĩa trang Haighết, tôi thấy ở cổng Nghĩa trang có treo ảnh Các Mác. Được một bà cụ khoảng ngoài 80 tuổi, trông coi Nghĩa trang, dẫn tôi đi vào bên trong, rồi rẽ trái, lại đi một đoạn nữa, thì đến mộ Các Mác. Bà cụ bảo tôi: “Đây là phần mộ Các Mác”. Bức tượng đồng chân dung Các Mác đặt ở trên bệ cao khoảng 1,5 mét. Dưới là dòng chữ Anh, ghi lời Các Mác trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “WORKERS OF ALL LANDS UNITE” (“Giai cấp công nhân thế giới liên hiệp lại”). Tôi đặt bó hoa, thắp hương kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Các Mác; chụp ảnh bên mộ Các Mác để làm kỷ niệm, rồi lấy giấy bút ra viết luôn bài thơ: Thăm mộ Các Mác ở Luân Đôn. Viết xong, tôi đọc to lên trước mộ Các Mác. Hình như Các Mác phù hộ cho tôi sau khi tôi đọc bài thơ, vì khi đặt chân đến cổng Nghĩa trang, trời mưa, gió mạnh, rất lạnh. Nhưng sau khi đọc xong bài thơ, trời bỗng quang, mây tạnh, gió thổi nhẹ. Có một con chim bồ câu lượn trên đầu tôi. Tôi cảm thấy như có cái gì thiêng liêng lắm.

Các Mác (1818-1883), con một luật gia người Đức, gốc Do Thái, tên là Henri Mác. C.Mác là nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà lý luận, nhà triết học. Các Mác từ một nhà dân chủ trở thành nhà cách mạng. C. Mác là người tiếp thu có chọn lọc về kinh tế, chính trị, triết học của Arixtốt, G.V.Hêghen, L.Phơbách,..., trên cơ sở đó mà sáng lập ra học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đại công nghiệp thế giới. Ông có đóng góp lớn về lý luận kinh tế, triết học và cùng với Ph.Ăngghen sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học. Vấn đề này đã được Ông cùng với Ph.Ăngghen trình bày rõ ràng trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (gọi tắt là “Tuyên ngôn”), viết vào năm 1847 và xuất bản vào năm 1848. Có thể xem “Tuyên ngôn” như bản Cương lĩnh của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Tác phẩm chủ yếu của C. Mác là bộ “Tư bản” (khởi thảo từ năm 1859 và cho đến khi qua đời vào năm 1883, vẫn chưa viết xong và Ph.Ăngghen đã viết tiếp phần cuối). C.Mác nói bộ “Tư bản” là sự nghiệp của cả đời Ông. Sự thật thì bộ “Tư bản” của C.Mác bắt đầu từ sự phân tích hàng hóa, quy luật vận động của hàng hóa. Từ sự phân tích hàng hóa, C.Mác trình bày những vấn đề hết sức quan trọng của sản xuất tư bản nói chung. Trên cơ sở phân tích về chủ nghĩa tư bản, trong bộ “Tư bản”, C.Mác đã phác thảo những nét cơ bản về chủ nghĩa cộng sản. C.Mác và Ph.Ăngghen là những người vạch phương hướng để giải quyết các vấn đề xã hội. Tư tưởng, học thuyết của C.Mác là nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Ph.Ăngghen là người đầu tiên nêu khái niệm “chủ nghĩa Mác”.