Mới cập nhật

Ngày xuân - Bàn về sử dụng tiếng Việt

 


Tiếng Việt

GS,TS Đàm Đức Vượng

 

Nhiều bạn đọc viết thư và nhắn tin cho tôi phàn nàn là hiện nay việc sử dụng tiếng Việt (chữ Quốc ngữ) không thống nhất, do đó, đề nghị tôi nên có một bài viết về vấn đề này. Tôi thấy những ý kiến đó là có cơ sở, nên nhân dịp đất nước sắp sang xuân mới, viết ra bài này để góp phần nhỏ của mình vào việc làm trong sáng hơn nữa tiếng Việt.

Qua nghiên cứu, tôi thấy tiếng Việt hiện tại ngày càng phát triển, đa dạng, nhưng khó học. Nhiều người nước ngoài có cảm nhận như vậy.

Ông cha ta xưa kia thường dùng chữ Hán, chữ Nôm. Thời cận đại, dùng chữ Pháp. Ngày nay, dùng chữ Anh, chữ Pháp, chữ Trung Quốc, chữ Nga,… và chữ Quốc ngữ vẫn là chữ chủ yếu của dân tộc. Một đất nước dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhiều người biết nhiều thứ tiếng, là đất nước có nền văn minh, văn hóa phát triển. Chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỷ XVII, trở thành tiếng Việt hiện nay. Lúc đầu, chữ Quốc ngữ còn sơ khai, nhưng càng ngày càng phát triển. Đó là dấu hiệu rất tốt cho ngôn ngữ nước nhà. Người nước ngoài đánh giá cao tiếng Việt, vì nó có nhiều chất văn hóa trong đó.

Tiếng Việt hiện tại rất phong phú, Có nhiều từ chỉ chung một nghĩa, nhưng khi diễn đạt lại viết khác nhau, như từ “chết” mà tùy theo vấn đề, văn cảnh, mà có thể diễn đạt là “từ trần”, “ra đi”, “mất”, “toi”, “về cõi vĩnh hằng”, “về nơi chín suối”, “ông ấy đã rời khỏi trần gian”, “về nơi thiên cổ”, “về cõi mịt mù tâm linh”, “ ông ấy vừa yên nghỉ trong giấc nghìn thu”,…

Vấn đề nổi cộm lên trong tiếng Việt hiện tại là chữ viết hoa và chữ không viết hoa, đang còn rất khác nhau.

Hằng ngày, ta phải sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau, nên đôi khi viết cũng khác nhau, không thống nhất, như khi viết “luật pháp” và “pháp luật”, tuy xét về nội dung có thể là cùng chung một nghĩa, nên muốn dùng một trong hai từ nào cũng được. Tôi lại nghĩ khác, giữa luật pháp và pháp luật có thể không khác nhau về nội dung, nhưng lại khác nhau về cách diễn đạt. Khi nói đến luật pháp là nói đến việc soạn thảo văn bản luật, còn khi nói đến pháp luật là nói đến thi hành pháp luật (“pháp” ở đây có nghĩa là thi hành, thi hành pháp luật). Tiếng Anh (một trong những thứ tiếng được xác định là tiếng quốc tế),  khi viết “luật pháp”, người ta dùng thuật ngữ “law” (danh từ riêng), còn khi viết “pháp luật”, lại dùng thuật ngữ “laws” (danh từ chung). Một số chữ viết còn chưa thống nhất giữa văn kiện Đảng và Hiến pháp, luật của Nhà nước (Quốc hội). Thí dụ, như Điều 2 của Hiến pháp hiện hành, viết: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Như vậy, viết hoa cả ba chữ “Nhân dân”. Nhưng văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021) lại viết: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống chính trị”. Như vậy, không viết hoa cả ba chữ “nhân dân”. Văn kiện của Đảng thường viết: “Chúng ta xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, chỉ viết hoa chữ “Đảng”, “Nhà nước”, không viết hoa chữ “nhân dân”, vì những người soạn thảo văn kiện quan niệm Đảng, Nhà nước là danh từ riêng, viết hoa, còn nhân dân là danh từ chung, không viết hoa. Văn kiện của Nhà nước thường viết hoa cả ba chữ: “Đảng”, “Nhà nước”, “Nhân dân”, vì có thể những người soạn thảo văn kiện muốn cân đối cả ba vế cho tương xứng giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân, nên mới viết hoa cả ba chữ: Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Theo tôi, nên viết cho thống nhất giữa văn kiện của Đảng và văn kiện của Nhà nước để người trích dẫn không phải băn khoăn là chữ ấy có viết hoa hay không? Muốn vậy, phải xác định cho rõ đâu là danh từ riêng, đại từ riêng, đâu là danh từ chung, đại từ chung. Nếu xác định là danh từ riêng, đại từ riêng, thì phải viết hoa, còn nếu xác định là danh từ chung, đại từ chung, thì không viết hoa. Theo đó, câu “các cơ quan trung ương”, “các cơ quan nhà nước”, “các cơ quan đoàn thể”, “các ban đảng”, “các tổ chức chính trị - xã hội”,… được xác định là danh từ chung, nên không viết hoa. Nhưng khi viết “Ban Chấp hành Trung ương Đảng” lại là danh từ riêng, nên phải viết hoa các chữ “Ban Chấp”, “Trung”, “Đảng”. Có tờ báo viết: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Có tờ báo viết: “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Có tờ báo viết: “Tại Thành phố Hồ Chí Minh…”. Có tờ báo viết: “Tại thành phố Hồ Chí Minh…”. Trong trường hợp này, nên viết: “Tại Thành phố Hồ Chí Minh…”, vì chữ “Thành phố” là tiếp đầu từ nối của từ “Hồ Chí Minh” và cũng để cho cân xứng khi ta viết: “Tại Thủ đô Hà Nội…”. Có tờ báo viết: “Báo Nhân dân”. Có tờ báo viết: “Báo Nhân Dân”. Trong trường hợp này, viết báo “Nhân Dân” là phổ biến hơn cả. Nhưng khi viết: “Báo Hà Nội mới”, người ta thường không viết hoa chữ “mới”, vì chữ “mới” là tính từ, còn chữ “Hà Nội” là danh từ. Có người viết: “Báo “Quân đội Nhân dân”. Có người viết: “Báo Quân đội nhân dân”, viết: “Báo Quân đội Nhân dân” đúng hơn,…

 Ngôn ngữ không có tính giai cấp, mà nó theo quy luật hành văn, theo ngữ pháp rất chặt chẽ, nên không thể tùy tiện viết hoa hay không viết hoa. Vấn đề đặt ra là phải xác định cho đúng câu văn ấy, mệnh đề ấy thuộc về danh từ chung, đại từ chung, hay danh từ riêng, đại từ riêng để viết hoa hay không viết hoa cho đúng với ngữ pháp tiếng Việt.

Trường hợp gạch nối hay không gạch nối khi phiên âm tiếng nước ngoài, viết cũng không thống nhất. Thí dụ, có tờ báo, tạp chí viết: “Báo Luy-ma-ni-tê” (Báo Nhân Đạo). Có tờ báo viết: “Báo Luymanitê”. Tôi hiểu viết không gạch nối đúng hơn viết có gạch nối, vì chính tiếng nước sở tại, những từ này, họ có dùng gạch nối đâu, mà đến khi phiên âm sang tiếng Việt, lại dùng gạch nối, làm cho những âm tiết bị tách rời ra, rất rườm rà. Thí dụ, tiếng Pháp viết là “L’humanité” (Báo Nhân Đạo)…

Từ “Internet” được xác định là danh từ riêng, viết hoa, nghĩa của nó là mạng toàn cầu. Nhưng trong thực tế, tôi thấy nhiều tờ báo không viết hoa chữ này.  

Những từ như “Trái Đất”, “Mặt Trăng”, “Mặt Trời”… phải được xác định là danh từ riêng, vì cả Vũ Trụ chỉ có một Trái Đất, một Mặt Trăng, một Mặt Trời, nên phải viết hoa. Thực tế, thì có tờ báo, cuốn sách viết hoa những chữ trên, nhưng cũng có nhiều tờ báo, cuốn sách lại không viết hoa những chữ này. Từ “Vũ Trụ” cũng phải viết hoa, vì chỉ có một Vũ Trụ, nên được xác định là danh từ riêng…

Trong thực tế, nhiều đại từ riêng, đáng lẽ phải viết hoa, như từ “tôi”, nhưng tôi thấy không một tờ báo nào, cuốn sách nào viết hoa chữ “tôi”. Trong một bài báo, một cuốn sách, người ta không muốn nhắc lại đầy đủ họ và tên một người, vì nó rườm rà, nên người viết đã thay bằng đại từ “ông”, “bà”,… cho gọn, nên chữ Ông, Bà (thay cho họ và tên đầy đủ đã viết ở trên) đáng lẽ phải viết hoa, nhưng các báo, sách đều không viết hoa những chữ này. Còn khi viết “các ông”, “các bà”,…, đương nhiên là không viết hoa, vì nó đã trở thành đại từ chung.  

Giữa từ “bảo đảm” và “đảm bảo”. Văn kiện của Đảng thường viết “bảo đảm”, một số văn kiện của Nhà nước lại viết “đảm bảo”… Tổng Bí thư Trường Chinh có lần nhắc chúng tôi là “các chú viết “đảm bảo” là viết ngược, phải viết “bảo đảm”, mới xuôi câu văn”…

Điều quan trọng trong khi hành văn vẫn là nội dung và cách dùng thuật ngữ sao cho chuẩn. Nhưng không ít trường hợp dùng sai. Có người hiểu “nghị quyết” và “quyết nghị” là hai nội dung khác nhau, nhưng thực ra, chỉ là một. Tiếng Anh, từ “nghị quyết” và “quyết nghị” chỉ dùng chung một từ “resolution”. Từ này chỉ khác về vị trí ngữ pháp của nó, ở chỗ nghị quyết là danh từ, còn quyết nghị lại là động từ. Có người viết “nghiêm chỉnh chấp hành”, mà đáng lẽ ra phải viết “chấp hành nghiêm chỉnh”, vì trước hết, phải chấp hành đã, rồi chấp hành có nghiêm chỉnh hay không nghiêm chỉnh lại là vế tiếp theo của câu. Có người viết “lãnh đạo tập thể”, mà đáng lẽ ra phải viết “tập thể lãnh đạo”. Giữa “lãnh đạo tập thể” và “tập thể lãnh đạo” nghĩa khác nhau. Có người viết “một đảng duy nhất cầm quyền”. Đã là một đảng, vị tất phải viết thêm “duy nhất” cho rườm rà. Có người viết “công nhân thợ mộc”, có người viết “thợ mộc”. Viết “công nhân” thường là viết chung về giai cấp công nhân, còn viết “nghề” là chỉ cụ thể anh đó làm nghề (thợ) gì, “thợ mộc”. Có người viết “phiến diện một chiều”. “Phiến diện” và “một chiều” thực ra cùng một nghĩa, nên chỉ cần dùng một trong hai từ ghép đó là đủ. Có người viết: “Nhưng, hiện nay chúng ta chưa có cơ chế cho nó”. Câu này đặt dấu phảy (,) ngay sau chữ “nhưng”. Có người viết liền: “Nhưng hiện nay chúng ta chưa có cơ chế cho nó”. Có người viết: “Song, hiện nay còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết”, đặt dấu phảy sau chữ “song”. Có người viết: “Song hiện nay cần rất nhiều vấn đề phải giải quyết”, không đặt dấu phảy sau chữ “song”. Viết cả hai trường hợp “song”, “nhưng” đều đúng, nhưng nên thống nhất trong một bài viết hoặc một cuốn sách, tránh tình trạng, đoạn trên viết “nhưng,.., đoạn dưới lại viết “nhưng”... Có người viết: “Chúng tôi nghĩ rằng, không thể ngày một ngày hai mà giải quyết được”. Có người viết: “Chúng tôi nghĩ rằng không thể ngày một ngày hai mà giải quyết được”. Trường hợp này, nên để dấu phảy sau chữ “rằng” nhằm tránh câu văn quá dài. Có người viết “… cho nên chúng ta phải chịu khó học tập”. Có người viết “… nên chúng ta phải chịu khó học tập” (không có chữ “cho”). Tôi thấy trước đây, các báo, sách đều viết “cho nên”, nhưng nay để giản lược câu văn, người ta không cần dùng chữ “cho nên”, mà chỉ dùng chữ “nên” cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung câu văn. Trước đây, người ta thường viết “luôn luôn”. Nay để cho giản lược câu văn, tôi thấy nhiều tờ báo chỉ viết một từ “luôn”, mà vẫn bảo đảm ý nghĩa trong một câu văn. Có người viết “v.v.”, hoặc “v.v..”, nếu chữ “v.v..” đó ở cuối câu. Hai dấu chấm cho chữ “v.v..” là một dấu chấm của “v.v.” và một dấu chấm ngắt câu. Nhưng ngày nay, để giản tiện cho một câu văn, người ta thay chữ “v.v.” bằng dấu ba chấm (…). Có người viết “hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng quý, hằng năm”. Có người viết “hàng giờ, hàng ngày, hàng quý, hàng năm”. Cần lưu ý, chữ “hàng” ở đây là chỉ “hàng ngũ”, “hàng loạt”, “hàng đầu”,…, chứ nó không nhằm chỉ thời gian, nên muốn chỉ thời gian, phải viết “hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng quý, hằng năm”. Có người viết: “Nền kinh tế đất nước đang phát triển rất ngoạn mục”. Xin lưu ý, từ “ngoạn” ở đây, dịch từ tiếng Hán ra tiếng Việt có nghĩa là “đẹp”, còn từ “mục” có nghĩa là “mắt”. Ngoạn mục có nghĩa là đẹp mắt. Vì vậy, viết: “Nền kinh tế đất nước đang phát triển rất ngoạn mục (đẹp mắt)” là chưa chuẩn, mà đáng lẽ phải viết: “Nền kinh tế của đất nước đang phát triển rất nhanh…”. Nhưng nếu viết: “Phong cảnh nơi đây thật ngoạn mục”, lại rất đúng ngữ pháp. Người đọc sẽ hiểu là phong cảnh nơi đây trông rất đẹp mắt. Có người viết “vô hình trung”. Có người viết “vô hình chung”. Viết “vô hình chung” là vô nghĩa, viết “vô hình trung” là đúng. “Vô hình trung” là việc làm không có chủ định, không cố ý, nhưng tự nhiên nó lại tạo ra, gây ra sự việc, không cố tình mà như dụng ý. Chữ “T/M” (Thay mặt) và chữ “T/L” (Thừa lệnh), khi viết trong công văn cũng phải có sự tính toán, cân nhắc. Trường hợp nào thì viết “T/M”, trường hợp nào thì viết “T/L”. Tôi thấy đã có một số văn bản viết lẫn lộn giữa “T/M” và “T/L”.  “Thay mặt” (T/M) là người cùng cấp thay mặt cho một cơ quan, tổ chức ký vào văn bản. Thí dụ, cùng là ban thường vụ, ban chấp hành. Khi một người trong cấp này ký vào văn bản, thì ghi “T/M”. “Thừa lệnh” là người được cấp có thẩm quyền ủy quyền cho người cấp dưới ký vào văn bản, thì ghi là “T/L”. Văn bản nào là T/M ký, văn bản nào là T/L ký, cũng phải có sự tính toán, cân nhắc, xem xét kỹ nội dung văn bản gửi cho cấp nào, thì cấp ký văn bản cũng phải tương ứng, hoặc dưới một, hai cấp của cấp nhận văn bản. Tuy nhiên, rất ít trường hợp trưởng phòng thừa lệnh của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, khi ghi “T/L”, mà thông thường là chánh hoặc phó văn phòng, ký “T/L” thủ trưởng cơ quan, đơn vị ký vào văn bản.

Việc dùng từ trong các văn bản cũng phải được nghiên cứu cẩn thận. Tôi thấy có nhiều trường hợp trong một câu văn có thể sử dụng nhiều loại từ ngữ đều đúng. Thí dụ 1, câu: “Điều này cho thấy quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này quy định quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này phản ánh quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này thể hiện quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này nói rằng, quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này nói lên quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”. “Điều này chứng tỏ quan hệ kinh tế là quan trọng nhất”… Thí dụ 2, câu: “Theo nguồn tin chính thức cho biết…”. “Theo nguồn tin dư luận cho biết…”. “Theo nguồn tin được thông báo cho biết…”. Gặp những trường hợp này, phải chọn từ phù hợp để đưa vào câu văn sao cho sát với nghĩa của nội dung toàn bài.

Trong việc soạn thảo văn bản, trường hợp nào viết số và trường hợp nào viết chữ, người viết phải cân nhắc cẩn thận. Thông thường, về số từ, thường là viết số, nhưng khi viết “lần thứ…” thì viết chữ. Tuy nhiên, quy ước này chỉ là tương đối, vì trong thực tế, có nhiều trường hợp viết “Đại hội lần thứ XIII của Đảng”… Có trường hợp thuộc về số từ, nhưng lại viết chữ, như số từ đó nằm ở đầu câu. Thí dụ: “Hai năm nữa lại sẽ có bóng đá quốc tế”. Trong trường này, không nên viết số 2, mà nên viết “Hai…”.

Trường hợp nào sử dụng chữ số La Mã, trường hợp nào sử dụng chữ số Ả Rập, cần cân nhắc. Đã có nhiều tờ báo viết thế kỷ XXI, nhưng cũng có nhiều tờ báo viết thế kỷ 21. Theo tôi, khi viết thế kỷ, thì viết số La Mã, khi viết thập kỷ, thì viết số Ả Rập là đúng nhất.

 Đối với những chữ viết tắt, nhất là những chữ viết tắt bằng tiếng nước ngoài, cần phải cân nhắc cẩn thận, bảo đảm đừng để cho người đọc hiểu khác đi. Đã có một số trường hợp viết tắt bị hiểu sai. Thí dụ, “Tổ chức Thương mại thế giới” (World Trade Organization), “Tổ chức Du lịch thế giới” (World Tourism Organization), “Tổ chức Hiệp ước Vacsava” (Warsaw Treaty Organization)… đều viết tắt là “WTO”. Vì vậy, khi thể hiện, phải viết tên đầy đủ những chữ đó, rồi mới viết tắt, đặt trong dấu ngoặc đơn (WTO). Hằng ngày, đọc báo, thấy nhan nhản những chữ viết tắt. Nhiều chữ viết tắt, người đọc nghĩ mãi vẫn không hiểu là chữ gì. Nếu nghĩ mãi mà không hiểu chữ gì, thì tốt nhất, không nên viết tắt.

Một số những ký hiệu dùng trong toán học, không nên viết ở dạng văn bản, sách, báo, như + và =,… mà phải viết là “cộng”, “bằng”…

Sự tùy tiện trong cách viết của một số người đã dẫn đến cách viết khác nhau về ngữ pháp, làm sai lệch, méo mó ngữ pháp tiếng Việt.

Nhà Xuất bản Thông tấn đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn cách biên tập” của Tác giả Michel Voirol, Dịch giả Nguyễn Thu Ngân đã phần nào giải quyết được những vấn đề về nghiệp vụ và cách thể hiện ngữ pháp trong khi viết và biên tập. Trong cuốn sách này, Tác giả lưu ý chúng ta hãy tôn trọng chính tả, hãy chú ý đến ngữ pháp, hãy viết những câu văn ngắn, từ dễ hiểu, sử dụng đúng dấu phảy (,), dấu chấm (.), dấu hai chấm (:), dấu hỏi chấm (?), dấu chấm than (!), dấu chấm lửng (…), dấu ngoặc kép (“…”), dấu ngoặc đơn (…), dấu gạch nối (-). Khó nhất vẫn là sử dụng dấu chấm phảy (;). Khi nào sử dụng dấu chấm phảy, khi nào sử dụng dấu phảy là cả một sự tính toán, cân nhắc. Trong một câu, muốn tách ra làm nhiều ý, người ta thường dùng dấu chấm phảy, còn để ngắt đoạn từ, nhưng vẫn cùng một ý, người ta dùng dấu phảy. Dấu chấm phảy là cầu nối giữa dấu chấm và dấu phảy.

Một câu văn không nên viết quá dài. Lời khuyên của Tác giả Michel Voirol là hãy viết những câu văn ngắn, gọn, nhưng vẫn đầy đủ chủ ngữ và vị ngữ; tối đa là 40 từ trong một câu văn.

Vấn đề luôn đặt ra là phải xử lý hài hòa giữa chất lượng và số lượng của văn bản. Chất lượng là tính quy định, khiến cho nó là nội dung này, chứ không thể là nội dung khác. Số lượng là số chữ trong một văn bản. Có những văn bản, số lượng chữ rất nhiều, nhưng chất lượng những chữ đó lại rất ít. Trong triết học, người ta thường nói đến những biến đổi về lượng làm nảy sinh những biến đổi về chất. Trong việc soạn thảo văn bản, tôi thấy không có hiện tượng này.

Khác với một số tiếng nước ngoài là người ta chia ra các “cách”. Riêng tiếng Việt, tôi thấy người ta không chia cách, nhưng thực ra, có nhiều “cách” khác nhau mà hiện nay nhận thức chưa thống nhất, nên tôi chưa thể chốt là tiếng Việt có mấy cách.

Hiện Việt Nam có ba vùng phương ngữ chính là Bắc, Trung, Nam với sự khác nhau về từ vựng, ngữ âm, nhưng thống nhất trong toàn quốc về chữ viết; có 5 dấu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) và chữ không dấu (thanh, an, quang,…), dùng để phân biệt nghĩa của từ. Trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam, có bốn dạng chữ viết: Quốc ngữ, Hán, Nôm, Pháp.   

Trên đây là một số vấn đề về sử dụng tiếng Việt, viết ra đây để bạn đọc tham khảo và cùng trao đổi.  Chúc các bạn viết đúng ngữ pháp tiếng Việt.