Về Tổng Bí thư Hà Huy Tập
GS,TS Đàm Đức Vượng
Tôi đọc trên trang mạng quốc tế, thấy đăng bài “Tổng Bí thư Hà Huy Tập phê phán đồng chí Nguyễn Ái Quốc”. Bài viết trích lại những câu của một ông giáo sư, tiến sĩ về một số đoạn từ văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, như viết Hà Huy Tập đánh giá “đồng chí Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu dự Hội nghị hợp nhất còn mang nặng những tàn tích của chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa dân tộc sô vanh”. “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc tranh đấu công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của Đảng, của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết. Hai Đảng Cộng sản Xiêm và Đông Dương đã viết một quyển sách chống những khuynh hướng này. Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin (Nguyễn Ái Quốc – ĐĐV) viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”…
Người viết bài “Tổng Bí thư Hà Huy Tập phê phán đồng chí Nguyễn Ái Quốc” trích dẫn không đúng, không đưa ra được xuất xứ các nguồn tài liệu; trình bày với dụng ý giữa Tổng Bí thư Hà Huy Tập và Nguyễn Ái Quốc có mâu thuẫn. Người viết chỉ khai thác những mặt Hà Huy Tập đánh giá tiêu cực (theo quan điểm của Hà Huy Tập) về Nguyễn Ái Quốc, còn những mặt tích cực của Nguyễn Ái Quốc mà Hà Huy Tập đã đánh giá, thì tác giả bài viết lại lờ đi. Rõ ràng, người viết bài “Tổng Bí thư Hà Huy Tập phê phán đồng chí Nguyễn Ái Quốc” là không sòng phẳng và không trung thực khi đánh giá về một nhân vật lịch sử.
Sự thật thì giữa hai người không có mâu thuẫn về quan điểm, chỉ có Hà Huy Tập có lúc hiểu lầm về phương pháp của Nguyễn Ái Quốc trong cách giải quyết vấn đề Đông Dương, nhưng nhìn chung là Hà Huy Tập đánh giá cao Nguyễn Ái Quốc.
Trong tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương” (năm 1933), Hồng Thế Công (Hà Huy Tập) viết: “Cố1 đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã có sáng kiến đề ra và lãnh đạo công cuộc thống nhất”2. “Nhưng đồng chí đã phạm một sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong thời gian Hội nghị hợp nhất mà chúng ta không thể bỏ qua. Tuy vậy, công lao to lớn của đồng chí là đã tập hợp được các lực lượng cộng sản phân tán lại thành một khối, nhờ đó mà đã đưa lại cho những người lao động Đông Dương một đội tiền phong chiến đấu và kiên quyết cách mạng”3.
Hà Huy Tập đánh giá rất cao tác phẩm “Đường Cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ông viết:
“Cuốn “Đường Cách mệnh” là sách phúc âm đối với tất cả mọi đảng viên; họ đã học gần như thuộc lòng, vì từ khi tôi rời nước đến nay đã được hơn ba năm, nên tiếc thay, tôi không nhớ toàn bộ nội dung quyển “kinh thánh” ấy, nhưng trong sách nói chung đã giải thích những kiểu cách mạng khác nhau, những quốc tế, công hội, nông hội, hợp tác xã khác nhau, v.v..”4.
Hà Huy Tập tán thành ý kiến chung lúc bấy giờ, cho rằng, Đảng Cộng sản Đông Dương được hình thành bởi ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (ở Bắc Kỳ), An Nam Cộng sản Đảng (ở Nam Kỳ), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (ở Trung Kỳ). Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng gồm những phần tử ưu tú của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, còn Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được lập nên bởi những phần tử ưu tú của Đảng Tân Việt. Đối với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hà Huy Tập công nhận là một tổ chức yêu nước và cách mạng. Đối với Tân Việt Cách mạng Đảng, Hà Huy Tập cho rằng, Đảng này chưa bao giờ thống nhất được với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nhưng chính Đảng Tân Việt, từ đầu năm 1927 đến tháng 7-1928 đã mang tên Việt Nam Cách mạng Thanh niên và chấp nhận toàn bộ cương lĩnh của tổ chức này.
Với Nguyễn Ái Quốc, Người đánh giá cao về những hoạt động cách mạng của Hà Huy Tập. Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội II của Đảng (1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay”5…
Qua sự phân tích, trích dẫn trên, cho thấy giữa Hà Huy Tập và Nguyễn Ái Quốc không có gì mâu thuẫn. Họ đều là những nhà cách mạng chuyên nghiệp, một lòng vì Đảng, vì nước, vì dân, vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Họ hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan, vất vả, vào sinh ra tử, nhưng không hề nao núng tinh thần, ý chí cách mạng rất sắt đá, không gì lay chuyển nổi. Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước. Hà Huy Tập trở thành Tổng Bí thư thứ ba Đảng Cộng sản Đông Dương.
Hà Huy Tập (trong quá trình hoạt động cách mạng, còn mang các tên: Nhỏ, Sinitchkin, Xinhikin, Xinhitrờkin, Xin, Cin, Hồng Thế Công, Hồng Quy Vít, Giôdép Marát, H.T.C, Thanh Hương,…), sinh ngày 24-4-1906, trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, tại làng Kim Nặc (có thời gian gọi là làng Kim Nạch), Tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1915, Hà Huy Tập bắt đầu đi học tại trường xã. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh phải ra tỉnh lỵ (thị xã Hà Tĩnh), vừa làm gia sư, vừa đi học tiếp. Anh tiếp tục học bậc tiểu học tại Trường Tiểu học Pháp – Việt tại tỉnh lỵ. Sau đó, xin học lớp Thành chung tại Trường Quốc học Huế. Sau một thời gian học tại Trường Quốc học Huế. Đến đây, anh dừng lại ở việc học hành, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Anh đành phải xin đi dạy học tại Trường Pháp – Việt Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Sau đổi về dạy tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, Thành phố Vinh.
Năm 1923, Hà Huy Tập bước vào trường tranh đấu. Anh tuyên truyền tư tưởng chống chế độ chuyên chế phong kiến và chống Pháp xâm lược Đông Dương. Như vậy, ngay từ năm 1923, Hà Huy Tập bắt đầu có những hoạt động yêu nước và từ chủ nghĩa yêu nước, anh giác ngộ cách mạng và đến với chủ nghĩa Mác – Lênin qua những tài liệu huấn luyện cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc đã gửi từ Quảng Châu về Việt Nam. Cuối năm 1925, anh gia nhập Hội Phục Việt (còn gọi là Hội Hưng Nam, Việt Nam Cách mạng Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng chí, Tân Việt Cách mạng Đảng, Đảng Tân Việt). Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng.
Do hoạt động yêu nước và cách mạng, Hà Huy Tập bị mật thám Pháp theo dõi sát sao, không cho anh dạy học tại Thành phố Vinh, buộc anh phải vào hoạt động tại Sài Gòn. Tại Sài Gòn, anh xin dạy học tại một trường tiểu học tư thục mang tên “An Nam học đường” ở Gia Định. Tại đây, anh đã len lỏi trong các xóm thợ và trà trộn trong hàng ngũ trí thức Sài Gòn để gây dựng các cơ sở cách mạng và phát động phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, trí thức.
Vì bị mật thám “tây và ta” theo dõi riết, tổ chức liền cử Hà Huy Tập, đại diện cho Đảng Tân Việt sang Quảng Châu, Trung Quốc để gặp Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, bàn việc hợp nhất giữa Thanh niên với Đảng Tân Việt. Tại Trung Quốc, anh đã đi qua các tỉnh Nam Kinh, Thượng Hải.
Trong quá trình hoạt động, tổ chức đã nhận ra Hà Huy Tập một gương mặt cách mạng, một cán bộ có khả năng nghiên cứu lý luận, nên đã giới thiệu anh sang Liên Xô để học tại Trường Đại học Phương Đông, trường chuyên đào tạo cán bộ của Quốc tế Cộng sản. Tại Trường, anh có điều kiện được nhiều tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và những tài liệu của Quốc tế Cộng sản. Trong thời gian học tại Trường Đại học Phương Đông, Hà Huy Tập được đi thực tập tại Nhà máy “Người chiến sĩ”. Tại Trường Đại học Phương Đông, Hà Huy Tập được kết nạp vào Đảng Cộng sản (B) Liên Xô. Anh rất giỏi tiếng Nga và tiếng Pháp.
Tốt nghiệp đại học tại Trường Đại học Phương Đông, Hà Huy Tập quyết định trở về Việt Nam để tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 3-1934, Ban Chỉ huy (còn gọi là Ban Lãnh đạo) ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập gồm ba người là Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Thư ký. Khi Lê Hồng Phong đi họp Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, thì Hà Huy Tập được bầu làm Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài (có tài liệu viết là Ban Chỉ huy hải ngoại). Trên cương vị Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài, Hà Huy Tập đã có công lớn trong việc soạn thảo các văn kiện cho Đại hội I của Đảng, trong đó có “Nghị quyết chính trị của đại biểu Đại hội (Congrès) lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương” (ngày 27-31-3-1935, gọi tắt là Nghị quyết chính trị).
Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935, tại số nhà 2, đường Quan Công, Ma Cao. Hà Huy Tập chủ trì Đại hội. Tại Đại hội, Hà Huy Tập trình bày Nghị quyết chính trị. Nghị quyết chính trị nêu bật tình hình thế giới, tình hình Đông Dương; chính sách mới và âm mưu mới của Pháp ở Đông Dương; cao trào cách mạng mới ở Đông Dương; tình hình Đảng và nhiệm vụ của Đảng. Nghị quyết chính trị kêu gọi toàn Đảng hăng hái tham gia cuộc vận động để cách mạng Đông Dương ngày càng phát triển. “Sự thắng lợi chắc chắn ở trong tay công, nông, binh! Cần nỗ lực tranh đấu đến ngày cách mạng thắng lợi hoàn toàn!”6. Tại Đại hội, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư) Đảng Cộng sản Đông Dương (bầu vắng mặt, vì Lê Hồng Phong lúc này đi họp Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Liên Xô). Hà Huy Tập được bầu làm Ủy viên Trung ương chính thức. Cho đến ngày 26-7-1936, tại Hội nghị Trung ương, Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư) Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông giữ chức vụ này từ tháng 7-1936 đến tháng 3-1938, trong hoàn cảnh cách mạng Đông Dương gặp sóng to gió lớn. Nhưng ông đã vững vàng cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.
Hoạt động trong hoàn cảnh như vậy, Hà Huy Tập đã bị nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương bắt giam và sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, ngày 28-8-1941, ông đã bị nhà cầm quyền Pháp xử bắn tại ngã tư Giếng Nước, Hóc Môn, Gia Định, cùng với các nhà cách mạng kỳ cựu Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai,… Hà Huy Tập ngã xuống ở độ tuổi 35, tuổi đang sung sức. Ông đi vào cõi vĩnh hằng một cách thanh thản với lời hô: “Cách mạng muôn năm!”7.
Con người ấy đã đi vào lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam!
------
1 Khi viết tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương”, Hồng Thế Công (Tổng Bí thư Hà Huy Tập) cho rằng, Nguyễn Ái Quốc đã mất trong tù.
2 Ý nói Hội nghị thành lập Đảng vào đầu năm 1930.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tập 4, tr.409.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tập 4, tr.366.
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, tr. 25.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 5, tr.31.
7 Dẫn theo sách “Hà Huy Tập Tổng Bí thư của Đảng” (tái bản nhiều lần) của GS,TS Đàm Đức Vượng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.117.