Trao đổi về bài viết “Việt Nam theo Trung Quốc hay theo Nga?”
GS,TS Đàm Đức Vượng
Đọc trên các trang mạng quốc tế, tôi thấy xuất hiện một số bài viết, bình luận về đường lối, chính sách quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, trong đó có bải “Việt Nam theo Trung Quốc hay theo Nga?”. Người viết bài này bình luận: “Việt Nam sẽ là một phiên bản thu nhỏ của Nga thời Putin hay Tàu thời Tập?”. “Nếu theo Trung Quốc, sẽ dẫn đến tình trạng độc tài máu lạnh, thâu tóm quyền hành bằng mọi thủ đoạn, thiếu tầm nhìn hiện đại hóa. Nếu theo Nga sẽ dẫn đến tình trạng dựa vào sức mạnh và thủ đoạn, bất chấp công lý và luật pháp”. Bài viết kết luận: “Nga hay Tàu, Putin hay Tập đều tệ hại. Theo Nga hay theo Tàu đều không phải là lựa chọn của một trăm triệu người Việt và nỗ lực đấu tranh cho một chính thể tự do, dân chủ trên quê hương, do vậy, vẫn hết sức cấp bách”…
Nhìn chung, những bài viết đăng trên mạng quốc tế, chứng tỏ họ hiểu sai về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam:
Về đường lối, chính sách đối ngoại, Việt Nam không thể theo ai, lệ thuộc vào ai, mà luôn đặt quan hệ tốt với các nước, trong đó có Trung Quốc và Nga, vì lợi ích của cả hai bên, bình đẳng, vì sự phát triển và thịnh vượng chung, vì một nền hòa bình và dân chủ trên toàn thế giới. Đó là chính sách đối ngoại rất nhân đạo, khoa học và tiến bộ của Việt Nam trên trường quốc tế, được bầu bạn trên thế giới ghi nhận và hoan nghênh.
Đường lối đối ngoại của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, tích cực hội nhập quốc tế, luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên hết, trước hết; có sự gắn kết giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước; chủ động hội nhập kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ yếu là kinh tế; giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập, nhất là độc lập, tự chủ về kinh tế, quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định, phát huy nội lực, thu hút ngoại lực, đồng thời, ra sức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện phương châm “thêm bạn bớt thù”; phát huy sức mạnh nội lực và ngoại lực bằng việc tận dụng ở mức cao nhất nguồn lực trong nước, đồng thời, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài, tạo thế và lực cho đất nước; chủ động hội nhập và tích cực tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó có ASEAN, WTO, APEC, ASEM,…, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác đối ngoại, bảo đảm thu hút ngày càng nhiều bầu bạn trên thế giới ủng hộ và hợp tác với Việt Nam.
Đường lối đối ngoại bao quát của Đảng và Nhà nước Việt Nam là độc lập tự chủ, dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với thời đại. Đường lối này rất quang minh chính đại.
Với Trung Quốc và Liên bang Nga, từ trước tới nay, nhìn chung, là mối quan hệ hữu nghị lâu đời, mang tính truyền thống, gắn kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Cụ thể:
Với Trung Quốc:
Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 18-1-1950. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao giữa hai nước. Đến năm 2026 đã được 76 năm. Từ đấy, mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, nhìn chung là tốt đẹp.
Mở trang lịch sử, thấy rằng, mối quan hệ thời hiện đại giữa hai Đảng và Nhân dân hai nước đã xuất hiện khá sớm, từ năm 1924, khi Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về hoạt động tại Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc đã nhiều năm hoạt động tại Trung Quốc. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, với sự giúp đỡ tận tình của Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã đào tạo được nhiều cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc có nhiều bạn tốt người Trung Quốc, kề vai, sát cánh giúp Người hoạt động cách mạng có hiệu quả.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, nhân dân và quân đội Việt Nam đã có những hoạt động chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân dân và quân giải phóng Trung Quốc trên chiến trường Quảng Tây (Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn) năm 1949. Sự chi viện của cách mạng Việt Nam cho cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ tuy nhỏ, nhưng chứa đựng tình cảm lớn lao giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước.
Trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, Đảng, Nhà nước, Nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả đối với Việt Nam.
Tuy nhiên, trong quá trình quan hệ, xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc do Trung Quốc tiến hành từ ngày 17-2-1979 đến ngày 16-3-1979, đánh vào Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh trả quyết liệt, buộc phía Trung Quốc phải rút quân về nước. Việc xâm lược Việt Nam năm 1979 là Trung Quốc đã đi sai một nước cờ, đánh giá thấp Việt Nam, thời kỳ Đặng Tiểu Bình làm Tổng Bí thư. Trung Quốc đã rút ra bài học này. Sau lần đó, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trở lại bình thường.
Các chuyến thăm cấp Nhà nước của lãnh đạo hai nước, trong đó có chuyến thăm của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc, tháng 10-2011 và chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình thăm chính thức cấp Nhà nước Việt Nam, tháng 11-2015… đã góp phần củng cố và tăng cường niềm tin chính trị, thống nhất quan điểm của hai Đảng, thúc đẩy hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực của hai nước, tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Đặc biệt, sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam, tháng 12-2023 và chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm thăm Trung Quốc, tháng 8-2024 và tháng 4-2026 đã thúc đẩy thêm một bước về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục phát triển tốt đẹp.
Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa quan hệ chính trị và ngoại giao giữa hai nước, đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch, nhất là hợp tác về khoa học, kỹ thuật, công nghệ số, giáo dục, đào tạo, y tế, giao lưu nhân dân, hợp tác văn hóa và các lĩnh vực khác, tạo động lực mới, đưa quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới.
Trải qua 76 năm kể từ khi Trung Quốc công nhận Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, có lúc trầm, rồi lại thăng. Dù sao, tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính của hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước.
Việt Nam coi quan hệ với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam mong muốn trong hiện tại và tương lai, quan hệ tốt đẹp và đầy thiện chí giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng được phát huy trên cơ sở hai Đảng Cộng sản, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước gắn bó cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội, tạo một hình ảnh đẹp, đầy chất thơ trên trường quốc tế.
Với Liên bang Nga:
Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ ngày 30-1-1950, sau Trung Quốc 12 ngày. Đến ngày 30-1-2026, được 76 năm. Trải qua nhiều khó khăn, thử thách của thời gian và những biến động của lịch sử, mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô ngày càng sâu đậm, thể hiện tình đoàn kết, hữu nghị thắm thiết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước.
Thực ra, mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô (nay là Liên bang Nga) hình thành từ năm 1923, khi lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô vào ngày 30-6-1923. Sau đó, Người còn đến Liên Xô nhiều lần. Tại Liên Xô, Người ghi nhận Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vô sản (cách mạng xã hội chủ nghĩa) thắng lợi đầu tiên trên thế giới, đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam. Có thể nói Công xã Pari, năm 1871, cũng được xem là cách mạng vô sản, nhưng không thành công. Còn Cách mạng vô sản Tháng Mười Nga năm 1917, thì thành công.
Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã vạch hướng đi cho cách mạng Việt Nam theo con đường giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ bền vững giữa Việt Nam và Liên Xô. Đó là mối quan hệ chí tình, chí nghĩa, đã đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ Việt Nam và Liên bang Nga sau này.
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ rất quý báu, to lớn và rất có hiệu quả từ Đảng, Nhà nước, Nhân dân Liên Xô. Sự tin cậy về chính trị, rất hiểu nhau, tôn trọng nhau, thống nhất trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực; bảo đảm hai bên cùng có lợi là một trong những nhân tố đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới.
Từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, quan hệ giữa Việt Nam - Liên Xô được chuyển sang quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga.
Ngày 16-6-1994, hai nước ký kết Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị tốt đẹp Việt - Nga. Hiệp ước này thống nhất những nguyên tắc mới cho mối quan hệ hai nước. Đó là tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và cùng có lợi. Từ đấy, mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga bước sang trang sử mới.
Một sự kiện đáng ghi nhớ là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Nga Vladimir Putin, tháng 3-2001. Hai bên ký kết Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nga, xác định khuôn khổ pháp lý cho hợp tác Việt - Nga. Trên cơ sở đó, hai nước quyết định nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 7-2012, dựa trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ sâu rộng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, giữ vững tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước, đồng thời, đóng góp cho hòa bình thế giới và ổn định khu vực.
Trong tương lai, mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên bang Nga còn phụ thuộc vào tình hình chính trị của mỗi nước, vào vị lãnh đạo cao nhất của mỗi nước qua từng thời kỳ và còn theo dòng chảy của lịch sử. Hy vọng nó sẽ mở ra triển vọng mới tốt đẹp.